Chi tiết tin tức

TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHẦN TRA CỨU THEO VẦN (INDEX) TRONG SÁCH KHOA HỌC NÓI CHUNG VÀ SÁCH KHOA HỌC DÀNH CHO THIẾU NHI NÓI RIÊNG

15:15:00 25/04/2012

Tham luận của ông Đỗ Hoàng Sơn, Giám đốc Công ty Long Minh, tại Hội thảo “Sách khoa học cho thiếu nhi – thách thức và giải pháp” do Công ty Long Minh tổ chức ngày 25-3-2012 trong thời gian diễn ra Hội sách thành phố Hồ Chí Minh lần VII.

 

Mục lục là một phần không thể thiếu trong mỗi cuốn sách, nhất là thể loại sách phi hư cấu (non-fiction). Ngay cả một số sách văn học cũng có mục lục: loại tiểu thuyết chương hồi (Tam quốc, Thủy hử, Tây du ký,...) và các tập truyện ngắn, tập thơ, v.v. Việc đầu tiên người đọc thường làm khi cầm trên tay một quyển sách mới có lẽ là đọc phần mục lục để tìm hiểu nội dung, bố cục cũng như trình tự của cuốn sách.

Tuy nhiên, một phần khác cũng đóng vai trò quan trọng không kém là index, dịch nôm na là “tra cứu theo vần”. Index là một danh sách các thuật ngữ, tên người, địa danh và sự kiện có liên quan đến nội dung cuốn sách, dưới dạng “từ khóa” (key word), được xếp theo vần chữ cái nhằm phục vụ mục đích tra cứu nhanh cho người đọc. Đặc biệt trong thể loại sách khoa học, với rất nhiều khái niệm, thuật ngữ có liên quan lẫn nhau, việc thiết kế index chính xác, đầy đủ, hợp lý là hết sức quan trọng, bởi nó cho phép người đọc xác định đích xác phần cần tìm, đồng thời tham khảo chéo các đề mục có liên quan.

Trong thể loại sách văn chương hay phục vụ mục đích giải trí, các sự kiện thường diễn ra riêng rẽ và theo những trình tự nhất định. Trong phần mục lục, các đề mục được sắp xếp vào các phần nhỏ theo trình tự xuất hiện trong sách. Các phần này lại được sắp xếp theo trình tự thời gian, không gian, hoặc từ đơn giản đến phức tạp. Khi cần tra cứu, người đọc có thể xem qua phần mục lục, xác định mảng thông tin mình đang tìm kiếm và đọc lại phần đó. Do đó, trên thực tế, phần mục lục về cơ bản đã cung cấp đủ thông tin cho người đọc nên thường không cần đến index.

Nhưng còn đối với sách khoa học và các loại sách phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu, tra cứu (nói rộng ra là loại sách phi hư cấu) có rất nhiều định nghĩa, khái niệm, thuật ngữ và cả các danh từ riêng. Các định nghĩa, khái niệm này thường xuất hiện trong nhiều phần khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Các thuật ngữ và danh từ riêng được sử dụng xuyên suốt trong sách, nên để tra cứu nhanh chóng và dễ dàng cần có một danh sách sắp xếp theo một trình tự hợp lý, thường là theo thứ tự bảng chữ cái.

altKhái niệm index có lẽ vẫn còn khá xa lạ đối với người đọc và ngay cả với người làm sách ở Việt Nam. Nhưng trên thực tế, hầu như tất cả trong số chúng ta đều sử dụng một ứng dụng rất phổ biến của index trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi khi cần tìm hiểu về một vấn đề chưa rõ, có lẽ không ai còn xa lạ gì với việc sử dụng Google để tìm kiếm thông tin. Việc tra cứu bằng Google hiện đã trở nên thông dụng tới mức bản thân từ Google, vốn là một danh từ riêng, nay đã trở thành một động từ trong tiếng Anh (và cả trong tiếng Việt). Nguyên tắc hoạt động của Google chính là lưu giữ thông tin trên mạng Internet dưới dạng các từ khóa để tạo nên một mục index khổng lồ. Khi người dùng gõ từ khóa vào hộp tìm kiếm, Google sẽ tìm trong index để chỉ ra các trang có chứa thông tin về từ khóa đó.

Như vậy, có thể thấy việc sắp xếp thông tin một cách có trật tự là hết sức quan trọng. Nếu không có các công cụ tìm kiếm như Google, việc tìm thông tin trên mạng Internet là gần như bất khả thi bởi khối lượng thông tin trên mạng là quá lớn, người dùng không thể đọc từng trang để xác định trang nào chứa thông tin mình quan tâm, trang nào không. Tương tự như vậy, với một cuốn sách không có index, người đọc sẽ phải đọc lại rất nhiều trang sách, có khi chỉ để tìm một chi tiết rất nhỏ.

            Ngay cả tên gọi của phần index trong tiếng Việt cũng không có sự thống nhất. Điều này cho thấy sự mới mẻ của việc áp dụng index. Có cuốn ghi nguyên thuật ngữ tiếng Anh index, một số cuốn sách gọi phần này theo tên Hán Việt là “sách dẫn” hoặc “chỉ mục”, nhưng các cách gọi này có thể gây khó hiểu hoặc nhầm lẫn cho người đọc. Chẳng hạn, người đọc có thể nghĩ rằng “sách dẫn” nghĩa là danh mục sách tham khảo (bibliography). Theo từ điển Oxford tái bản lần bảy (năm 2010), index là một danh sách các tên gọi hoặc chủ đề được nhắc đến trong một cuốn sách, thường được đặt ở cuối sách, sắp xếp theo thứ tự vần chữ cái. Như vậy, bản thân chữ index đã bao hàm ý nghĩa “sắp xếp theo vần”, trong khi tên gọi “chỉ mục” hay “sách dẫn” không đủ để làm toát lên ý này. Đặc biệt, trong lĩnh vực làm sách cho thiếu nhi, nếu dịch theo tên Hán Việt thì các em nhỏ khó có thể hiểu được ý nghĩa và công dụng của phần này. Do đó, trong những năm gần đây, các sách do công ty Long Minh xuất bản đã dịch phần index là mục “tra cứu theo vần” để dễ hiều và gần hơn với ngôn ngữ gốc.  

Ở cấp độ thấp nhất, phần tra cứu là một tập hợp các thuật ngữ và danh từ riêng quan trọng đã xuất hiện trong sách. Đối với những người chưa từng đọc qua cuốn sách, phần tra cứu giúp họ nắm được nội dung khái quát và thậm chí có thể đóng vai trò trong việc đưa ra quyết định có mua cuốn sách đó hay không. Còn đối với những người đã từng đọc cuốn sách đó, phần tra cứu lại là một công cụ hữu hiệu trong việc tìm kiếm thông tin nhanh mà không cần đọc lại cả cuốn sách.

Ở cấp độ cao hơn, phần tra cứu có thể liệt kê các cách gọi khác nhau của cùng một thuật ngữ, chỉ dẫn người đọc tham khảo các đề mục có liên quan, hay xếp các thuật ngữ thuộc cùng một nhóm vào các đề mục lớn. Ngoài ra, ở các loại sách mà nội dung có thể phân chia thành các mảng riêng rẽ, mục tra cứu có thể được chia làm nhiều phần để công việc tra cứu tốn ít thời gian nhất. Ví dụ như trong sách cờ, ta bắt gặp ba loại index, đó là index thuật ngữ, index tên kỳ thủ và index các kiểu khai cuộc. Do lượng thông tin trong mỗi cuốn sách thường khá lớn, khi chia nhỏ phần index như vậy, người đọc sẽ dễ dàng xác định được thông tin mình tìm kiếm thuộc phần index nào và dễ dàng tra cứu. Với một bảng tra cứu tỉ mỉ, chi tiết và có độ chính xác cao, người đọc không những có thể thu lượm rất nhiều thông tin từ cuốn sách mà còn có thể sử dụng nó như một công cụ nghiên cứu.

Vấn đề thoạt nhìn tưởng không có gì phức tạp, nhưng khi thực hiện mới thấy không đơn giản, tốn nhiều công sức và thời gian, nhất là đối với ngôn ngữ âm tiết rời như tiếng Việt. Đã từng có những sai sót, khiếm khuyết như xếp tên họ người phương Tây theo thứ tự tên trước, họ sau, ví dụ: Albert Einstein, trong khi lẽ ra phải xếp theo thứ tự Einstein, Albert.

Một vấn đề rắc rối nữa là xếp vần theo từ phụ đứng đầu hay từ chính (những, sự, chiếc, cái, phép, bệnh...). Một số trường hợp có thể giải quyết được ngay nhưng có những trường hợp không rõ ràng, mỗi sách giải quyết một kiểu. Những trường hợp như Các bộ phận trên cơ thể, Sự định vị mọi người dễ dàng nhất trí rằng không nên xếp vào vần C (Các) hoặc S (Sự). Nhưng có những trường hợp “lưỡng phân” mà mỗi sách áp dụng một kiểu, ví dụ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản thì hiện có hai cách giải quyết: 1) xếp nguyên như tên gọi; 2) xếp chữ chủ nghĩa xuống sau và để trong ngoặc hoặc sau dấu phẩy: cộng sản, chủ nghĩa hoặc cộng sản (chủ nghĩa)... Ưu điểm của cách thứ hai so với cách thứ nhất là chọn được từ cần tìm mà không phụ thuộc vào cách dịch phần phụ của từ trong sách. Ví dụ: không phải bao giờ -ism cũng cứ phải dịch là chủ nghĩa, chẳng hạn: surrealism có thể có các phương án dịch như sau: chủ nghĩa siêu thực, trào lưu siêu thực, phong trào siêu thực, trường phái siêu thực, nếu người đọc cứ tìm ở vần C (chủ nghĩa) thì có khi không thấy, còn nếu tìm từ “siêu thực” (vần S) thì khả năng tìm thấy rất cao.

Vấn đề này ngay cả cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng lúng túng và áp dụng không nhất quán. Lấy ví dụ, một số biển được xếp vào vần B với tên gọi bắt đầu bằng chữ Biển (như Biển Bắc, Biển Đỏ, Biển Đông Trung Hoa, Biển Java, Biển San Hô...), còn đa số các biển khác xếp vần theo tên riêng, khi thì có kèm chữ Biển trong ngoặc (kể cả trường hợp không sợ trùng tên), khi thì không (ngay cả một số trường hợp trùng tên): Arập, Banđa, Bantich (Biển), Nhật Bản (Biển), Caribê... Chỉ có Biển Nhật Bản có cả hai dạng và hình thức chuyển mục từ (x. = xem): Biển Nhật Bản x. Nhật Bản (Biển). Các con sông cũng gặp tình trạng tương tự: 78 sông Việt Nam và hai sông nước ngoài, trong đó phần lớn sông có tên gọi chỉ gồm một âm tiết, được xếp ở vần S, ví dụ: Sông Ấn, Sông Bồ, Sông Cả, Sông Cầu, Sông Đuống, Sông Hằng, Sông Hồng, Sông Mỹ Tho, Sông Thương; còn những con sông khác cả trong nước lẫn nước ngoài được xếp theo tên riêng và không có chữ sông: Amazôn, Amu Đaria, Amua, Ba Chẽ, Bến Hải, Ca Long, Cà Lồ, Hoàng Hà, Nin, Trường Giang, Vonga,… Chỉ có 3 sông trong vần sông được chuyển sang mục từ cùng tên riêng: Sông Đồng Nai x. Đồng Nai, Sông Hàm Luông x. Hàm Luông, Sông Thu Bồn x. Thu Bồn, có 3 sông khác được chuyển sang mục từ khác tên riêng: Sông Con x. Sông Hiếu, Sông Cửu Long x. Mekông, x. Sông Lam x. Sông Cả. Tất cả các bộ động vật và thực vật trong cuốn từ điển này đều xếp theo tên của chúng, riêng bộ Đậu lại được xếp vào vần B theo chữ Bộ. Trong khi đó gần như tất tần tật các đền chùa của Việt Nam đều bị dồn vào vần C (Chùa) và Đ (Đền).

Ngoài ra, khi sắp xếp các đề mục nhỏ vào một nhóm đề mục lớn lại nảy sinh thêm một số vấn đề, đầu tiên là về cách trình bày. Có thể trình bày các đề mục nhỏ theo hai cách: viết liền nhau, ngăn cách bằng dấu chấm phẩy hoặc viết mỗi đề mục nhỏ trên một dòng, lùi vào một chút so với đề mục lớn. Cách thứ nhất có thể tiết kiệm diện tích và giảm chi phí in nhưng nhìn khá lộn xộn, khó tra cứu, người dùng không thể đọc lướt để chọn lọc đúng thông tin cần tìm (sách của công ty Long Minh luôn trình bày đề mục nhỏ theo cách thứ hai).

Một vấn đề nữa là liệu có cần sử dụng các phụ từ chỉ quan hệ như “về”, “trong”, “và” ở trước các đề mục nhỏ. Đây là một vấn đề ngay cả tiếng Anh, tiếng Pháp cũng gặp phải. Ví dụ trong cuốn Niềm vui toán học, dưới đề mục lớn là “hình học” có các đề mục nhỏ như sau: Euclid, tô-pô, trăng lưỡi liềm, phi Euclid, và đường đi của electron, và kiến trúc Gô-tích, xạ ảnh và hội họa, xạ ảnh. Về cơ bản, khi người đọc đã tìm được đề mục chính, việc đọc lướt qua các đề mục nhỏ bao hàm trong đó để chọn ra từ khóa mình đang tìm kiếm không phải công việc khó khăn gì.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Susan Olason xuất bản trong tạp chí The Indexer của Anh (tháng 10 năm 2000), một cuộc khảo sát 126 đối tượng ở độ tuổi từ 17 đến 80 cho thấy 80% số người tham gia khảo sát nhận xét rằng các đề mục nhỏ không đi kèm phụ từ chỉ quan hệ là phù hợp với mục đích tra cứu, trong khi chỉ 40% trong số đó có đánh giá tương tự với đề mục nhỏ có kèm phụ từ. Trong ví dụ nêu trên, ta thấy các từ “và” có thể được lược bỏ mà không ảnh hưởng gì đến nội dung, thậm chí còn hỗ trợ việc tra cứu bởi đề mục càng dài sẽ càng làm loãng thông tin, khiến việc tra cứu trở nên khó khăn, mất thời giờ hơn.

            Trong sách khoa học dành cho trẻ em, mục tra cứu theo vần còn đóng một vai trò nữa, đó là để rèn luyện cho các em nhỏ thói quen tra cứu, tìm kiếm thông tin. Việc làm quen với bảng tra cứu giúp các em tham khảo các đề mục một cách có hệ thống, tăng khả năng làm việc và nghiên cứu độc lập cũng như năng lực phân tích, xử lý thông tin. Ban đầu, các em nhỏ có thể chưa quen với việc đọc bảng tra cứu, nhưng trên thực tế, các nghiên cứu đã cho thấy trẻ em thường mất tập trung và hứng thú khi phải đọc qua nhiều trang sách chỉ để tìm một thông tin ngắn nhất định. Năng lực làm việc, nghiên cứu độc lập cũng cần được nuôi dưỡng từ bé như một thói quen để tránh tính ỷ lại vào cha mẹ, thầy cô. Phần tra cứu cũng giúp các em nắm bắt các thuật ngữ quan trọng và còn có thể đóng vai trò kiểm tra nhanh kiến thức để xem các em đã hiểu được bao nhiêu phần nội dung cuốn sách.

            Theo nghiên cứu của Williams và Bakewell đăng trong tạp chí The Indexer (tháng 10 năm 1999) với đối tượng là 154 em nhỏ ở độ tuổi từ 7 đến 11 và 114 người lớn làm việc trong lĩnh vực sách thiếu nhi hoặc là phụ huynh các em nhỏ ở độ tuổi nói trên (nghiên cứu được thực hiện ở Anh), tất cả các em nhỏ đều nhận xét rằng mục tra cứu theo vần là không thể thiếu trong sách phi hư cấu. Một em nhỏ 11 tuổi còn nói rằng nếu một cuốn sách không có mục tra cứu thì các em không thể tìm được thông tin trong đó. Một nhà đánh giá sách thiếu nhi nhận xét rằng việc một cuốn sách có kèm mục tra cứu cho thấy lòng tôn trọng độc giả của người làm sách. Các thủ thư trong thư viện trường tiểu học thì nói rằng chính sách của nhà trường là không mua các sách không có phần tra cứu (đối với thể loại sách phi hư cấu), ngoại trừ những trường hợp rất đặc biệt. 70,5% người lớn tham gia trả lời câu hỏi thăm dò ý kiến đồng ý rằng họ sẽ không mua sách thiếu nhi mà không có mục tra cứu. Như vậy, có thể nói mục tra cứu theo vần là một phần bắt buộc phải có trong sách phi hư cấu cho thiếu nhi, đặc biệt là sách khoa học.

 alt           Nghiên cứu nói trên cũng ghi nhận một số ý kiến từ các em nhỏ, cho thấy có một số điểm đáng lưu tâm trong việc thiết kế mục tra cứu cho sách thiếu nhi. Trước hết, font chữ của mục tra cứu nên to bằng font chữ sử dụng trong sách để tránh gây cảm giác phần tra cứu có nội dung không quan trọng bằng nội dung chính của cuốn sách. Các đề mục nên chia theo từng vần riêng rẽ và nên in đậm vần bằng font chữ lớn để các em có thể nhanh chóng định vị vần cần tìm. Ngoài ra, đối với các em ở độ tuổi nhỏ (mẫu giáo lớn, lớp 1), việc nhớ thứ tự bảng chữ cái không hoàn toàn dễ dàng nên người làm sách có thể in kèm bảng chữ cái ở đầu mục tra cứu để hỗ trợ các em (60,2% các em nhỏ tham gia nghiên cứu nhận xét rằng bảng chữ cái rất hữu dụng). Các đề mục không phải danh từ riêng nên sử dụng chữ in thường để các em nhỏ học cả cách viết đúng chính tả khi sử dụng bảng tra cứu.

Thêm vào đó, như đã đề cập tới ở trên, trong sách dành cho người lớn, các đề mục nhỏ có nội dung gần nhau với thường được nhóm lại dưới một đề mục lớn, tuy nhiên, đối với các em nhỏ, việc nhóm đề mục nhỏ lại như vậy có thể khiến các em khó tìm kiếm, dẫn đến hiện tượng “ẩn thông tin”. Ngoài ra, 80,6% số người tham gia vào cuộc điều tra (cả người lớn và trẻ em) nhận xét rằng nên có một phần giải thích ngắn gọn về công dụng cũng như hướng dẫn sử dụng mục tra cứu để phụ huynh và học sinh hiểu rõ hơn về chức năng, công dụng và cách sử dụng mục tra cứu một cách hợp lý, hiệu quả nhất.

            Việc tạo mục tra cứu theo vần cho sách khoa học vốn không còn xa lạ gì trong ngành xuất bản sách ở các nước phương Tây. Thậm chí các sách xuất bản ở Trung Quốc cũng có mục tra cứu, mặc dù tiếng Trung Quốc được viết bằng Hán tự chứ không viết bằng chữ cái Latinh như các ngôn ngữ phương Tây. Có thể nói, khi nhìn vào các cuốn sách của một đất nước, chúng ta sẽ thấy ngay mức độ phát triển của nước đó. Việc mục tra cứu xuất hiện trong sách của một đất nước cho thấy người dân ở nước đó đã có thói quen dùng sách để tra cứu, tìm kiếm thông tin chứ không chỉ đơn thuần dùng sách để phục vụ mục đích giải trí. Nhưng ở Việt Nam, số lượng sách xuất bản có kèm mục tra cứu có thể đếm trên đầu ngón tay. Ngoài lý do được nêu ra là người đọc Việt Nam chưa quen sử dụng mục tra cứu theo vần, các lý do chính là những người làm sách muốn giảm số trang, tiết kiệm chi phí, và việc soạn mục này rất mất công, tốn thời gian, cho dù đã đỡ phần nào khi có sẵn danh mục tra cứu của sách nguyên bản (trường hợp sách dịch).

Ngoài ra, sách của Việt Nam còn thiếu nhiều phần khác cũng không kém phần quan trọng, từ lâu đã xuất hiện trong sách xuất bản ở nước ngoài, đó là phần thông tin catalog và ISBN. Thông tin catalog là phần nằm ở đầu cuốn sách, thường được in kèm với thông tin bản quyền, chứa thông tin về tác giả, tên sách cùng với nội dung sách gói gọn trong các từ khóa. Còn ISBN là một chuỗi gồm 13 chữ số (trước năm 2007 là 10 chữ số), được sử dụng như một hình thức mã vạch dành cho sách. Có thể nói hai phần này là một tiêu chuẩn hết sức quan trọng đối với các thư viện. Nếu muốn xuất khẩu được sách Việt Nam sang thư viện nước ngoài, bắt buộc phải có hai phần này, và phải như vậy mới tuyên tryền được văn hóa Việt Nam ra quốc tế và đem lại doanh thu cho ngành xuất khẩu sách. 

Với mục đích đưa các em nhỏ Việt Nam tới gần hơn với phong cách đọc sách và giáo dục của trẻ em nước ngoài, các bộ sách khoa học do công ty Long Minh thực hiện luôn đi kèm phần tra cứu được biên soạn cẩn thận, công phu, có độ chính xác cao. Một số sách còn có phần thông tin catalog và ISBN. Công ty Long Minh hy vọng các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo sẽ phối hợp cùng mong muốn của công ty là đào tạo nên một thế hệ trẻ của Việt Nam hiện đại hơn, được tiếp cận với các điều kiện học tập của trẻ em trên toàn thế giới. Công ty cũng hy vọng sẽ gây được sự chú ý trong giới các nhà làm sách, để các bộ sách khoa học dành cho thiếu nhi trong tương lai sẽ chú trọng hơn tới việc làm mục tra cứu theo vần, để việc sử dụng mục tra cứu theo vần trở thành một kỹ năng cơ bản của học sinh Việt Nam trong tương lai gần.

 

 

PHẢN HỒI

 

Việc xếp vần mục từ nên theo phương án của Lê Trung Hoa trong bài Công việc biên soạn từ điển từ nguyên địa danh Việt Nam:

Không đưa yếu tố chung chỉ tiểu loại địa danh vào để xếp vần (tiểu loại địa danh là từ chỉ địa hình thiên nhiên như sông, rạch, núi, hồ, biển; chỉ đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã; chỉ vùng, miền như  xóm, khu, ấp, vùng, miền; chỉ công trình xây dựng như cầu, đường, công viên, sân vận động, ... đi kèm tên địa danh). Ví dụ: Đối với rạch Chiếc, cầu Giấy, chúng ta không đưa các từ rạch, cầu vào tên mục từ mà chỉ nêu các yếu tố riêng vào đây: Chiếc, Giấy. Ở đây có bốn vấn đề cần giải quyết.

 Thứ nhất, chỉ khi nào yếu tố chung đó trở thành một thành tố của địa danh theo phương thức chuyển hoá (tên rạch biến thành tên cầu, tên cầu biến thành tên chợ, phường…) thì chúng ta mới đưa vào. Ví dụ: cầu Rạch Chiếc, quận Cầu Giấy thì tên mục từ sẽ là Rạch Chiếc, Cầu Giấy.
Thứ hai, đối với các địa danh bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số, yếu tố chung thường không được rõ nghĩa và thường được dùng gắn chặt với yếu tố riêng, vì thế chúng ta nên đưa các yếu tố chung này vào tên mục từ; thí dụ Nậm Rốm, Đa Nhim, Plei Ku…
Thứ ba, nếu địa danh là tên người thì ta không được đưa danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh vào mà chỉ nêu tên người, vì nhân danh lúc này đã trở thành địa danh. Thí dụ: đường Lê Lợi, thành phố Hồ Chí Minh, huyện Trần Văn Thời… thì chỉ nêu: Lê Lợi, Hồ Chí Minh, Trần Văn Thời…
Thứ tư, nếu địa danh là số từ, ta không nêu danh từ chung mà chỉ nêu số từ, được viết bằng số hoặc bằng chữ. Thí dụ: phường 5, quận 3 thì chỉ nêu: 5 hoặc Năm, 3 hoặc Ba hay Năm/5, Ba /3,…
NGUYỄN VIỆT LONG
Chưa có phản hồi

Captcha image